Đối với miền Trung, để tạo sự đột phá về phát triển công nghiệp, đồng thời phát huy tiềm năng, vị trí địa lý và các lợi thế so sánh của vùng, từng bước phát triển miền Trung thành một trong những vùng phát triển năng động của cả nước, Đảng và Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung bộ đến năm 2010; Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 13/8/2004 về phương hướng nhiệm vụ chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các KCN cả nước nói chung và miền Trung nói riêng là một trong những giải pháp thực hiện các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước qua từng giai đoạn. Từ năm 1991 đến nay, các KCN cả nước nói chung và miền Trung nói riêng đã trở thành những trọng điểm thu hút dự án đầu tư trong và ngoài nước, góp phần quan trọng vào việc nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương và cả nước. Các KCN của Việt Nam hiện đang là điểm đến của nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới trong những lĩnh vực khác nhau như Canon, Samsung, LG, Sumitomo, Foxconn... với nhiều sản phẩm được xuất khẩu sang các thị trường toàn cầu, góp phần khẳng định vị thế nước ta trong bản đồ địa kinh tế của khu vực và thế giới.
Các tỉnh miền Trung Việt Nam bao gồm khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ (từ Thanh Hoá đến Bình Thuận) có lợi thế nằm trên các trục giao thông chính Bắc - Nam cả về đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, có ý nghĩa chiến lược về giao lưu kinh tế Bắc - Nam và Đông - Tây, có quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Campuchia, Đông Bắc Thái Lan và Myanmar, là cửa ngõ ra biển của các tuyến hành lang Đông - Tây nối với đường hàng hải quốc tế qua biển Đông và Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, các tỉnh miền Trung nằm trong khu vực thời tiết khắc nghiệt, có nhiều biến động, địa hình phân dị phức tạp, thiên tai xảy ra thường xuyên. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt gây khó khăn cho việc phát triển nông nghiệp, đòi hỏi một chiến lược dài hạn trong đó công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của vùng.
Đối với việc phát triển các KCN, so với các vùng, miền khác trong cả nước, miền Trung là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn với xuất phát điểm thấp, không có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển KCN. Do vậy, để đẩy mạnh kinh tế địa phương theo hướng CNH, HĐH, việc xây dựng và phát triển các KCN được đặt ra như một yêu cầu bức thiết, là công cụ và bước khởi động để phát triển công nghiệp địa phương, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế trên địa bàn.
Tuy đầu tư vào KCN tại các tỉnh miền Trung gặp nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, sự quyết tâm của các địa phương, việc phát triển hệ thống KCN những năm qua đã đem lại nhiều kết quả khả quan, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế trong vùng nói riêng và cả nước nói chung.

Một số kết quả đạt được
Sự phát triển các KCN đã đem lại kết quả đáng khích lệ. Tính đến tháng 6/2012, các tỉnh miền Trung có 44 KCN đã thành lập, chiếm 15,6 % so với cả nước với diện tích đất tự nhiên là 9.816 ha, đất công nghiệp có thể cho thuê là 5.475 ha và đất đã cho thuê là 2.462, tỷ lệ lấp đầy khoảng 45%. Trong đó, 20 KCN đã đi vào hoạt động và 24 KCN đang xây dựng cơ bản. Một số KCN hoạt động hiệu quả và có tỷ lệ lấp đầy cao như: KCN Đà Nẵng đạt tỷ lệ lấp đầy 100%, KCN Hòa Khánh (Đà Nẵng) đạt tỷ lệ lấp đầy 91%, KCN Phú Tài và Long Mỹ (Bình Định) đạt tỷ lệ lấp đầy 90%, KCN Phan Thiết (Bình Thuận) đạt tỷ lệ lấp đầy 100%, KCN Phú Yên đạt tỷ lệ lấp đầy 100%, KCN Điện Nam - Điện Ngọc (Quảng Nam) giai đoạn 1 và 2 đạt tỷ lệ lấp đầy 90%... Tổng vốn đầu tư kết cấu hạ tầng của 44 KCN vào khoảng 219 triệu USD và 15.017 tỷ đồng.
Tuy số lượng không nhiều nhưng các KCN đã có đóng góp tích cực đối với phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Lũy kế đến tháng 6/2012, các KCN đã thu hút được 157 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 2,265 tỷ USD, bằng 4% so với cả nước; tổng vốn thực hiện đạt 898 triệu USD, bằng 4,1% so với cả nước; 917 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký là 38.567 tỷ đồng, bằng 10,7% so với cả nước; tổng vốn thực hiện là 16.505 tỷ đồng, bằng 9,4% so với cả nước.
Tỷ suất đầu tư vốn đầu tư các dự án đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước/ha đất công nghiệp đã cho thuê lần lượt đạt là 0,89 triệu USD (tương đương 17,8 tỷ đồng) và 15,76 tỷ đồng. Tỷ lệ tạo công ăn việc làm/ha đất công nghiệp đã cho thuê là 62 lao động.
Các KCN đóng góp tích cực vào sản xuất công nghiệp. Tuy quy mô phát triển các KCN còn nhỏ song đã góp phần đáng kể trong phát triển sản xuất công nghiệp trong vùng, góp phần đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng. Cơ cấu kinh tế của vùng chuyển dịch khá nhanh, tỷ trọng đóng góp của công nghiệp - xây dựng vào GDP tăng nhanh (từ 37,8% năm 2007 lên 41,7% năm 2010).
Các KCN đóng góp ngày càng lớn vào phát triển kinh tế, giải quyết việc làm. Trong năm 2011, doanh thu của các KCN đạt 1,3 tỷ USD, bằng 3,9% so với cả nước. Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp đạt xấp xỉ 680 triệu USD và 457 triệu USD. Các doanh nghiệp cũng đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước với hơn 1.624 tỷ đồng và giải quyết việc làm cho 165.947 lao động (bằng 9% so với cả nước).
Một số hạn chế chủ yếu và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, trong thời gian qua, hoạt động của các KCN thuộc các tỉnh miền Trung còn bộc lộ một số mặt hạn chế, khó khăn cần khắc phục trong thời gian tới.
- Chất lượng công tác xây dựng quy hoạch KCN chưa tốt, chưa tính tới liên kết vùng và ngành. Việc triển khai Quy hoạch KCN đã được phê duyệt của các địa phương còn hạn chế, chưa có kế hoạch phân kỳ thành lập, mở rộng KCN cụ thể, hợp lý căn cứ trên khả năng thu hút đầu tư thực tế của địa phương. Nguyên nhân là tư duy quy hoạch còn mang nhiều tính cục bộ, địa phương, chú trọng tới lợi ích của địa phương mà chưa tính toán đúng mức tới lợi ích của vùng, quốc gia.
- Do xuất phát điểm thấp, việc phát triển các KCN trong vùng còn gặp không ít khó khăn. Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, điều kiện kinh tế – xã hội của khu vực còn kém phát triển so với các vùng kinh tế khác. Mạng lưới hạ tầng trong vùng xây dựng chưa đồng bộ.
- Các chương trình xúc tiến đầu tư do địa phương thực hiện còn mang tính cục bộ, chưa đạt hiệu quả cao, chưa thu hút được dự án đầu tư có ngành nghề, hàm lượng công nghệ phù hợp với lợi thế phát triển; sự thống nhất, đồng bộ trong các chương trình, kế hoạch xúc tiến đầu tư giữa cơ quan Trung ương và địa phương còn hạn chế.
- Các dự án đầu tư vào KCN chưa đa dạng về cơ cấu ngành và hiệu quả sử dụng đất chưa cao so với mức bình quân của các KCN trong cả nước. Các dự án sản xuất công nghiệp vào KCN chủ yếu là dự án công nghiệp nhẹ (dệt, sợi, may mặc...) và công nghiệp thực phẩm có khả năng thu hút nhiều lao động và tỷ lệ xuất khẩu cao.
- Việc đền bù, giải toả xây dựng hạ tầng còn kéo dài, ảnh hưởng tới các công trình hạ tầng và bàn giao mặt bằng sản xuất cho các nhà đầu tư. Việc phát triển các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các KCN còn chậm làm giảm sự hấp dẫn của các KCN, bỏ lỡ nhiều cơ hội thu hút đầu tư. Nguyên nhân do các quy định của pháp luật liên quan đến công tác đền bù, giải phóng mặt bằng KCN hay thay đổi, chưa phản ánh sát với điều kiện thực tế dẫn đến tình trạng giá đất và chi phí bồi thường tăng cao.
- Công tác bảo vệ môi trường trong KCN tuy đã được cải thiện, song vẫn còn một số KCN, doanh nghiệp KCN chưa tuân thủ nghiêm túc pháp luật về môi trường.
- Vấn đề lao động - việc làm, đời sống công nhân trong KCN còn nhiều khó khăn.
Định hướng và giải pháp phát triển
Để các KCN thực sự phát huy được sức mạnh đầu tàu của mình trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của miền Trung, đồng thời phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những khó khăn vướng mắc, cản trở đối với sự phát triển của các KCN, trong thời gian tới, cần tập trung vào một số định hướng và giải pháp phát triển các KCN như sau:
Phát triển KCN phải tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt
- Quy hoạch phát triển các KCN, KCX của cả nước nói chung và dải ven biển miền Trung nói riêng sau khi được phê duyệt sẽ là căn cứ để các cơ quan, tổ chức và các địa phương sử dụng trong quá trình rà soát, điều chỉnh quy hoạch các vùng và các địa phương.
- Việc quy hoạch và thành lập các KCN miền Trung cần đặt trong lợi ích tổng thể của cả nước và của Vùng; cần phát huy lợi thế về vị trí địa lý của vùng nhằm hình thành hệ thống các KCN có khả năng hỗ trợ, liên kết lẫn nhau để phát huy tối đa tiềm năng, sức mạnh của các KCN từng địa phương tạo bước đột phá mạnh, lan tỏa rộng cho toàn Vùng.
- Thường xuyên theo dõi, đánh giá các KCN đã được thành lập. Căn cứ tình hình triển khai thực tế của các KCN đã được thành lập, đề nghị UBND và Ban Quản lý KCN cấp tỉnh chủ động đề xuất phương án xử lý đối với các KCN:
Trường hợp KCN triển khai thuận lợi (thu hút đầu tư tốt, triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật theo đúng tiến độ) và khu vực còn quỹ đất để phát triển, ngoài việc hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động có thể xem xét việc mở rộng KCN;
Đối với các KCN gặp khó khăn trong quá trình triển khai, cần tập trung giải quyết các vướng mắc để tiếp tục triển khai. Nếu KCN không có triển vọng, cần kiên quyết xem xét việc rút Giấy phép đầu tư, Quyết định phê duyệt dự án hoặc chuyển đổi mục đích, sử dụng tránh tình trạng dự án được phê duyệt nhưng không triển khai, gây dự luận không tốt trong xã hội.

Xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và xã hội tại các khu vực có xây dựng KCN
- Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào với các nội dung chủ yếu: hiện đại hóa hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin, dịch vụ hải quan, giao thông; xử lý chất thải, nước thải; nhà ở và các công trình dịch vụ, văn hóa, xã hội; đầu tư hệ thống hạ tầng đồng bộ, đặc biệt là hệ thống đường liên vùng, liên tỉnh, các tuyến hành lang Đông - Tây.
- Phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội để đáp ứng nhu cầu phục vụ hiện tại và tính đến khả năng phục vụ lâu dài trong tương lai như nhà ở, bệnh viện, trường học, chợ và các công trình công cộng khác. Xây dựng và phát huy vai trò trung tâm kinh tế - văn hoá vùng của các thành phố: Đà Nẵng, Huế, Nha Trang.
- Việc xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng xã hội là trách nhiệm của Nhà nước và của các doanh nghiệp. Ngoài việc sử dụng một phần vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước, cần huy động các nguồn lực khác nhau của xã hội bằng những cơ chế thích hợp, ưu đãi.
Chính sách tạo nguồn vốn xây dựng hạ tầng KCN
Do điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của vùng, khả năng thu hút đầu tư vào phát triển các KCN hiện nay còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc tạo nguồn vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, tạo sức hút các nhà đầu tư thứ cấp là một việc vô cùng quan trọng. Để đảm bảo thực hiện được Quy hoạch phát triển KCN của khu vực, cần phải có những giải pháp cụ thể, phù hợp:
- Cần có chính sách khuyến khích thoả đáng đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển hạ tầng KCN.
- Về việc sử dụng vốn ngân sách để hỗ trợ phát triển các công trình hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào: Để tạo điều kiện hỗ trợ cho các địa bàn gặp nhiều khó khăn trong phát triển các KCN có thể xem xét việc tiếp tục sử dụng vốn ngân sách xây dựng KCN trong từng trường hợp cụ thể, không chỉ xuất phát từ sự cần thiết thành lập KCN mà còn phải phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách.
- Về chính sách đất đai: cần tuân thủ theo những quy định của Luật Đất đai và được xử lý trong các quy định liên quan để giải quyết thoả đáng quyền lợi và trách nhiệm của doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN cũng như doanh nghiệp trong các KCN để đảm bảo tính nhất quán của chính sách ưu đãi về đất đai của Nhà nước đối với tất cả doanh nghiệp trong và ngoài KCN, tôn trọng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Về chính sách tín dụng: áp dụng lãi suất vay ưu đãi và kéo dài thời gian vay vốn đối với các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng KCN.
Tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư vào KCN
- Thực hiện thống nhất, chủ động công tác vận động, xúc tiến đầu tư với sự tham gia tích cực, đồng bộ của các Bộ, ngành và chính quyền địa phương các tỉnh trong vùng.
- Quảng bá quy hoạch phát triển các KCN; tổ chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm ở trong và ngoài nước theo chuyên đề để hấp dẫn các nhà đầu tư.
- Dành kinh phí thoả đáng từ ngân sách Nhà nước cho công tác vận động xúc tiến đầu tư; tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống thông tin phục vụ các nhà đầu tư về chủ trương phát triển KCN.
- Đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trong vùng chỉ đạo chặt chẽ các Ban Quản lý KCN cấp tỉnh, doanh nghiệp phát triển hạ tầng trong việc vận động định hướng đầu tư vào KCN. Hạn chế tối đa đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp ngoài KCN.
Kiểm soát chặt chẽ vấn đề môi trường
- Tăng cường thanh, kiểm tra việc thi hành pháp luật về môi trường trong các KCN gắn với việc xử lý vi phạm một cách kiên quyết, dứt điểm. Đồng thời, xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.
- Nâng cao năng lực quản lý về môi trường cho các Ban Quản lý KCN cả về nhân lực và trang thiết bị để tạo điều kiện cho các Ban Quản lý chủ động hơn trong thực hiện nhiệm vụ về bảo vệ môi trường KCN.
Chính sách phát triển lao động và đào tạo nghề, phát triển các cơ sở đào tạo nghề gắn với nhu cầu phát triển KCN
- Thành lập các cơ sở đào tạo nghề tại nơi phát triển KCN để trực tiếp đào tạo nghề cho những lao động nông nghiệp có đất được chuyển đổi sang sản xuất công nghiệp sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp KCN, tạo đời sống ổn định cho người dân địa phương.
- Việc đào tạo và cung cấp lao động, trước hết phải căn cứ vào định hướng phát triển các ngành trên các vùng và trong các KCN để có phương án bố trí hợp lý và đáp ứng được yêu cầu.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với KCN
Để giải quyết những vấn đề còn chồng chéo, chưa thống nhất trong các văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến KCN, KCX, KKT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội bổ sung nội dung xây dựng Luật Khu kinh tế vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội để hình thành hệ thống các quy định thống nhất, mang tính pháp lý cao điều chỉnh hoạt động của KCN và các loại hình KKT. Trước mắt, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển KKT, KCN nhằm hỗ trợ, giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của các KKT, KCN.
Cùng với quyết tâm của các ngành, các cấp, việc thực hiện đồng bộ các định hướng và giải pháp đã nêu sẽ giúp các KCN miền Trung phát triển đúng định hướng, đạt hiệu quả cao và bền vững. Ngoài ra, đối với các địa phương, cần phải nâng cao nhận thức của các cơ quan nhà nước về vai trò, vị trí của các KCN trong quá trình CNH, HĐH đất nước; thống nhất chủ trương tăng cường phân cấp, ủy quyền quản lý nhà nước KCN trên các lĩnh vực nhằm xây dựng Ban Quản lý KCN trở thành một cơ quan “đầu mối, tại chỗ” ở địa phương quản lý nhà nước KCN theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính.
ThS. Vũ Đại Thắng - Vụ trưởng Vụ Quản lý các KKT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư