Tìm kiếm
Lượt truy cập
Nghiên cứu - Trao đổi
Cập nhật ngày: 04/01/2017, 10:05 SA - Số lần xem: 1170
Kinh nghiệm quốc tế về chính sách ưu đãi và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ thân thiện với môi trường

Sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và công nghệ đã và đang ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống và sản xuất. Cùng với sự phát triển đó, công nghệ thân thiện với môi trường hay còn được gọi là công nghệ xanh đã được phát triển và sử dụng rộng rãi trong bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho phát triển và ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi trường, chính phủ các nước đã xây dựng và thực thi nhiều chính sách ưu đãi và khuyến khích đối với các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau như thông qua các chính sách về đầu tư, các cơ chế thúc đẩy, hỗ trợ đầu tư, các chính sách cạnh tranh, các chương trình tài chính hoặc các cơ chế quản trị công…

Khuyến khích thông qua các quy định về tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn kỹ thuật

Dù chưa có nhiều nghiên cứu chỉ rõ mối liên hệ giữa các tiêu chuẩn môi trường và cải tiến, đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường; tiêu chuẩn môi trường vẫn được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng rộng rãi với hai mục đích chính là đảm bảo chất lượng môi trường và thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường. Các tiêu chuẩn môi trường có thể được ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau như các tiêu chuẩn về kỹ thuật, các tiêu chuẩn về xử lý chất xả thải hoặc những yêu cầu cụ thể như tiêu chuẩn tối thiểu đối với các thành phần của hàng hóa, tiêu chuẩn sử dụng nhiên liệu và năng lượng hiệu quả; hạn chế phát thải, xả thải, và sử dụng các nguyên liệu độc hại; những ràng buộc về sử dụng đất…

Thông qua việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường, Chính phủ các nước kỳ vọng có thể tác động đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp, một cách gián tiếp thúc đẩy các doanh nghiệp phải đổi mới khoa học công nghệ, sử dụng các công nghệ thân thiện với môi trường hơn, đáp ứng tiêu chuẩn chặt chẽ. Từ đó giảm lượng nguyên liệu đầu vào, kiểm soát được số lượng cũng như chất lượng chất thải trong quá trình sản xuất, đáp ứng được các quy định về tiêu chuẩn môi trường. Tùy thuộc vào đặc trưng của từng ngành công nghiệp, các quy định tiêu chuẩn môi trường sẽ có tác động đến đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp theo các mức độ khác nhau.

                Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một quỹ trị giá 1,46 tỉ đô la Mỹ, đặc biệt dành cho đổi mới công nghệ trong lĩnh vực ô tô

Đài Loan đã thành công trong việc sử dụng các quy định tiêu chuẩn môi trường để thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường. Năm 1995, Đài Loan thành lập Trung tâm sản xuất sạch hơn quốc gia. Để thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường, bảo đảm các tiêu chuẩn môi trường đặt ra, Trung tâm này đã ưu tiên phát triển các chỉ tiêu sản xuất sạch hơn như chỉ tiêu lượng rác thải tạo ra, số năng lượng tiêu thụ và chỉ tiêu độc hại. Các chỉ tiêu này áp dụng rộng rãi với nhiều ngành công nghiệp khác nhau. Các phần mềm được phát triển để giúp các nhà nghiên cứu đánh giá được mức độ sạch hơn của các sản phẩm hoặc các quá trình sản xuất. Tái chế, sử dụng tài nguyên hiệu quả, ít gây ô nhiễm trở thành các tiêu chí để xem xét sảm phẩm được chứng nhận “Xanh” hay không. Bên cạnh đó, Trung tâm sản xuất sạch hơn quốc gia cũng đưa ra một chương trình hợp tác chính thức với hiệp hội các doanh nghiệp. Theo đó, các thành viên thuộc hiệp hội sẽ phải tuân thủ các quy định môi trường và áp dụng các quy tắc sản xuất sạch hơn trong quá trình sản xuất, với sự hỗ trợ về kỹ thuật từ Trung tâm sản xuất sạch hơn quốc gia. Một điểm đáng chú ý là, ngoài việc đưa ra rất nhiều quy định về tiêu chuẩn môi trường, Chính phủ Đài Loan cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề thực thi. Một lực lượng công an đặc biệt đã được thành lập để đảm bảo thực thi các quy định về môi trường. Lực lượng này với sự đầu tư đặc biệt của Chính phủ cả về nhân lực và tài chính đã phát hiện và xử lý nhiều vụ vi phạm trong lĩnh vực môi trường. Việc thực hiện nghiêm túc các quy định tiêu chuẩn môi trường cùng với sự sẵn sàng hỗ trợ của Chính phủ đối với các doanh nghiệp trong việc đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường đã tạo ra động lực thúc đẩy các doanh nghiệp Đài Loan áp dụng các công nghệ mới, ít gây ra ô nhiễm và sử dụng năng lượng, nguyên liệu hiệu quả hơn.

Qua nghiên cứu thực trạng ban hành, áp dụng các quy định tiêu chuẩn môi trường của các nước trên thế giới, có thể thấy đây là một công cụ được sử dụng rộng rãi và thành công ở các nước có nền kinh tế phát triển, đi kèm với năng lực thể chế và khả năng thực thi tốt. Trong khi đó, các tiêu chuẩn môi trường ở các nước đang phát triển còn yếu do chưa có đủ năng lực thể chế để giải quyết các vấn đề ô nhiễm công nghiệp.

Trong số các nước đang phát triển, Nigeria được xem như một trường hợp ngoại lệ. Kể từ năm 1988, Chính phủ Nigeria đã thành lập Cơ quan bảo vệ môi trường Trung ương (FEPA) để quản lý các quá trình ra các quy định về môi trường ở Nigeria. Sau khi được thành lập, FEPA đã tổ chức các cơ quan, phòng thí nghiệm kiểm soát ô nhiễm để theo dõi và kiểm soát vấn đề ô nhiễm công nghiệp.

Bên cạnh FEPA, mỗi bang của Nigeria cũng thành lập một cơ quan bảo vệ môi trường cấp bang (SEPA), các cơ quan này cùng với FEPA phối hợp để theo dõi, kiểm soát vấn đề ô nhiễm công nghiệp. Theo đó, SEPA sẽ trực tiếp chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm soát các vấn đề ô nhiễm công nghiệp tại bang mình, trong khi FEPA hỗ trợ về thể chế, khung quy định để kiểm soát ô nhiễm. Các hỗ trợ về mặt thể chế và khung quy định bao gồm: phát triển các tiêu chuẩn và hướng dẫn kiểm soát ô nhiễm ở Nigeria; đào tạo cho các cán bộ môi trường của bang và hạn chế phát thải, xả thải. Một bộ luật được ban hành vào tháng 8/1991 và có hiệu lực từ tháng 1/1995 được kỳ vọng sẽ có những tác động cần thiết đến đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường của Nigeria, nhằm đáp ứng các quy định về tiêu chuẩn môi trường. Cụ thể, “Quy định giới hạn mức xả thải quốc gia” và “Quy định các phương tiện tạo ra rác thải và giảm bớt ô nhiễm đã đưa ra một mức tối đa cho các thông số phát thải công nghiệp ở Nigeria. Mức giới hạn xả thải này được áp dụng với tất cả các bang ở Nigeria, và cho phép một số bang được đưa ra các quy định cao hơn đối với xả thải. Kết quả thu được ngay sau đó là nhận thức về vấn đề môi trường cũng như nỗ lực bảo vệ môi trường ở Nigeria đã tăng lên đáng kể.

Trên thế giới, bên cạnh các quy định về tiêu chuẩn môi trường chung, các quốc gia cũng áp dụng các tiêu chuẩn môi trường cụ thể đối với các ngành công nghiệp cụ thể. Trong đó, phổ biến nhất là ngành công nghiệp sản xuất ô tô. Đối với ngành công nghiệp sản xuất ô tô, cách tiếp cận được được nhiều quốc gia áp dụng rộng rãi là tiêu chuẩn sử dụng nhiên liệu hiệu quả. Theo Hội đồng quốc tế về Vận tải sạch, Chính phủ của một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới như Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Mỹ, Canada, Trung Quốc, Úc, Hàn Quốc và Đài Loan đã đề xuất, ban hành hoặc đang trong quá trình rà soát lại các tiêu chuẩn về phát thải khí nhà kính. Ví dụ, chính quyền của Tổng thống Obama (Mỹ) đã đưa ra các tiêu chuẩn về sử dụng nhiên liệu hiệu quả đối với ô tô và các xe tải loại nhẹ. Theo đó, trong giai đoạn 2017-2025, mức tiêu thụ nhiên liệu hiệu quả là 3,8 lít xăng đi được khoảng 90km. Tiêu chuẩn này được đề ra, dự kiến sẽ cắt giảm khí nhà kính xuống 50% và giảm 40% mức tiêu thụ nhiên liệu so với mức hiện tại. Liên minh châu Âu đã quy định tiêu chuẩn CO2 trung bình đến năm 2020 là 95g CO2/km đối với ô tô con và ô tô SUV (tương đương với 57.6mpg). Trung Quốc cũng đã đề ra mức tiêu chuẩn tiêu thụ nhiên liệu đến năm 2015 là 7 lít/100km đối với ô tô con và ô tô SUV.

Tuy nhiên, dù cho nhiều quốc gia đã sử dụng tiêu chuẩn môi trường với mục đích thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường thì kết quả thu được vẫn còn rất nhiều hạn chế. Các tiêu chuẩn về phát thải thường dựa trên công nghệ cuối đường ống, do đó cũng không thúc đẩy được quá trình nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi trường tại các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một số quốc gia thay vì sử dụng các tiêu chuẩn môi trường lại sử dụng các tiêu chuẩn về công nghệ, nhưng kết quả thu được vẫn chưa đáng kể. Các tiêu chuẩn về công nghệ sẽ đặt ra yêu cầu đối với các doanh nghiệp phải phát triển được các công nghệ mới, và từ đó thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này sẽ tạo ra gánh nặng chi phí rất lớn lên các doanh nghiệp, trừ trường hợp các nhà hoạch định chính sách giảm nhẹ và trì hoãn các tiêu chuẩn. Như vậy, các tiêu chuẩn về kỹ thuật chỉ nên áp dụng khi có cơ hội, và với một mức chi phí đủ thấp.

Khuyến khích thông qua các công cụ kinh tế

Các công cụ kinh tế như thuế, giấy phép ô nhiễm… là công cụ được sử dụng rộng rãi ở các nước OECD. Xét về lý thuyết, giảm thiểu phát thải các chất gây ô nhiễm thông qua các công cụ kinh tế mang lại rất nhiều lợi ích.

Thứ nhất, phí phát thải (hoặc thuế) và các giấy phép ô nhiễm thường mang lại hiệu quả cao hơn vì cá nhân, tổ chức gây ra ô nhiễm thường có quyền lựa chọn giữa tuân thủ các quy định hoặc chi trả cho việc xả thải. Các doanh nghiệp gây ô nhiễm có thể lựa chọn chi trả cho việc xả thải trong trường hợp chi phí biên của việc kiểm soát phát thải cao hơn so với phí xả thải. Điều này đồng nghĩa với việc các lợi ích về môi trường sẽ đạt được ở mức chi phí thấp nhất.

Thứ hai, các công cụ kinh tế sẽ đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới công nghệ.

Thứ ba, hệ thống các công cụ kinh tế so với các quy định về tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn công nghệ sẽ phụ thuộc ít hơn vào sự sẵn có của công nghệ kiểm soát ô nhiễm, và do đó có thể được ban hành, thực hiện nhanh hơn, với mức chi phí thấp hơn thông qua giảm thiểu nhu cầu hoạch định chính sách.

Thứ tư, các công cụ kinh tế thường tạo ra động lực cho các doanh nghiệp thực hiện các giải pháp toàn diện, xử lý phát thải trong cả quá trình sản xuất thay vì công nghệ cuối đường ống.

Các chính sách về thuế

Kinh nghiệm thực tiễn của nhiều quốc gia đã chỉ ra rằng, thuế và phí là những cơ chế thị trường có hiệu quả cao trong việc khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường. Thuế có thể được đánh vào đầu vào của quá trình sản xuất, bản thân quá trình sản xuất hoặc là đánh vào sản phẩm để khuyến khích người sản xuất cũng như người tiêu dùng cân nhắc đến chi phí xã hội và chi phí môi trường – những chi phí không được phản ánh thông qua giá cả hàng hóa. Thuế cũng có thể được sử dụng để chuyển hướng những hoạt động sản xuất gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, tiêu thụ nhiều tài nguyên thiên nhiên sang những cách thức sản xuất thân thiện với môi trường nếu thuế được sử dụng để hỗ trợ các chương trình, các công nghệ thân thiện với môi trường.

Năm 1999, Đức đã ban hành thuế sinh thái, theo đó đẩy gánh nặng thuế từ chi phí lao động sang đánh thuế việc tiêu thụ dầu và điện. Số thuế thu được được sử dụng để giảm mức đóng góp cho lương hưu và khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo. Thuế sinh thái sau khi ban hành ở Đức đã giúp giảm việc sử dụng nhiên liệu, giảm mức phát thải, thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, đồng thời tạo ra thêm nhiều việc làm cho toàn bộ nền kinh tế.

Tại Thụy Sỹ, thuế đánh vào các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) đã được Chính phủ ban hành vào năm 1998 và có hiệu lực từ 01/01/2000. Loại thuế này được ban hành và thực thi nhằm cắt giảm mức phát thải và sử dụng VOC xuống 20-50% trong vòng 5-8 năm, và tăng cường nhận thức của người dân về môi trường cũng như các vấn đề về VOC. Sau một thời gian dài thực hiện, thuế VOC (cùng với các yếu tố khác như sức khỏe, sự an toàn, hướng dẫn của EU…) đã có những tác động đáng kể đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Thụy Sỹ, có tác động tích cực đến đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường của các doanh nghiệp. Thuế VOC đã làm cho chi phí của một số nguyên liệu đầu vào chính tăng cao, tác động đến quyết định lựa chọn nguyên liệu đầu vào của các doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp đã thực hiện đổi mới công nghệ sản xuất ngay khi thuế được ban hành, trong khi đó nhiều doanh nghiệp cũng lên kế hoạch để đổi mới nhằm giảm thiểu phát thải VOC và giảm sử dụng các sản phẩm có chứa VOC.

Các chính sách liên quan đến chi tiêu

Cách tiếp cận dựa trên chi tiêu bao gồm những tiêu chuẩn về mua sắm của chính phủ và các khoản đầu tư vào các chương trình giáo dục, trợ cấp cho nghiên cứu và phát triển công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường, đầu tư vào cơ sở hạ tầng để hỗ trợ các công nghệ mới. Đầu tư của chính phủ có thể giúp thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi trường, và thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu phát triển các công nghệ sản xuất hiệu quả hơn, thân thiện với môi trường hơn. Rất nhiều quốc gia đã sử dụng những công cụ này. Chính phủ Mexico đã đưa ra những thay đổi trong luật mua sắm, yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước mua các sản phẩm, thiết bị bằng gỗ có chứng nhận và sử dụng giấy tái chế. Năm 2009, Chính phủ Úc đã thực hiện Thỏa thuận kỹ năng xanh của mình. Thông qua thỏa thuận này, tìm kiếm để xây dựng các chương trình dạy nghề và đào tạo các cá nhân, doanh nghiệp để thúc đẩy một nền kinh tế bền vững, một nền kinh tế các-bon thấp. Trong giai đoạn từ 2009 đến 2013, Trung Quốc, Nhật BảnHàn Quốc đã đầu tư 519 tỉ đô la Mỹ cho công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường.

Mặc dù nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các công cụ kinh tế có hiệu quả trong thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường, việc áp dụng các mức phí, thuế phát thải cũng có những hạn chế nhất định. Quá trình áp dụng các công cụ kinh tế nhằm bảo vệ môi trường ở các nước khác nhau sẽ thu được những kết quả khác nhau, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố từ trình độ dân trí, văn hóa…

Các hạn chế cụ thể của việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý chất lượng môi trường, thúc đẩy đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường là:

Thứ nhất, để các công cụ kinh tế đạt hiệu quả cao thì người gây ô nhiễm, hay các doanh nghiệp xả thải phải nhạy cảm với các thay đổi về giá. Trong khi đó, không phải tất cả các doanh nghiệp đều nhạy cảm với thay đổi về giá. Ví dụ, tại Hà Lan, khi đầu tư vào cải tiến nhà nhiệt, vấn đề giá đóng vai trò rất hạn chế. Điều này cho thấy, sử dụng giá cả làm động cơ tác động đến hành vi của doanh nghiệp ở Hà Lan sẽ không phù hợp và đạt được hiệu quả cao như mong đợi. Do đó, ở Hà Lan, các chính sách thường nhắm đến hành vi của người tiêu dùng, thay vì người sản xuất.

Thứ hai, mức thuế, phí xả thải đưa ra phải được tính toán đủ để khiến các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường.

Thứ ba, để giải quyết các vấn đề môi trường lớn, ảnh hưởng đến nhiều quốc gia như biến đổi khí hậu, phát thải khí nhà kính, thuế cần được sử dụng đồng bộ ở các quốc gia, nhưng cũng cần chú ý để không làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D)

Hoạt động R&D đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện với môi trường trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động này thường đòi hỏi nguồn kinh phí và nhân lực lớn và Chính phủ cần đóng vai trò chính trong việc duy trì hoạt động R&D. Có nhiều hình thức khác nhau hỗ trợ cho hoạt động R&D đã được thực hiện bởi Chính phủ các nước như hỗ trợ nghiên cứu hoặc cho vay nghiên cứu. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các chương trình trợ cấp, cho vay nghiên cứu cần giới hạn chặt chẽ vào các công nghệ thân thiện với môi trường chưa có trên thị trường. Mặc dù vai trò của R&D là rất quan trọng, tuy nhiên, quá trình triển khai các chương trình trợ cấp, cho vay hoạt động R&D trong lĩnh vực môi trường vẫn chưa thu được kết quả đáng kể.

Tại Trung Quốc, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp, đưa ra nhiều chương trình thúc đẩy hoạt động R&D tập trung vào ngành vận tải carbon-thấp. Để hỗ trợ cho hoạt động phát minh sáng chế và phát triển ngành công nghiệp ô tô, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một quỹ trị giá 1,46 tỉ đô la Mỹ, đặc biệt dành cho đổi mới công nghệ trong lĩnh vực ô tô. Kết quả đạt được là những cải tiến công nghệ hấp dẫn đối với các bộ phận chính của ô tô bao gồm: động cơ điện, pin, kiểm soát điện, máy, bộ dẫn động, hệ thống phanh, hệ thống điều khiển, hệ thống treo, và hệ thống kiểm soát động cơ.

Chính quyền trung ương cũng lên kế hoạch phân bổ 15 tỉ đô la Mỹ để hỗ trợ hoạt động phát triển các phương tiện sử dụng năng lượng hiệu quả và các phương tiện sử dụng năng lượng mới trong giai đoạn 2011-2020. Trong đó, 7,5 tỷ đô la Mỹ sẽ được phân bổ cho giai đoạn 2011-2015 để triển khai các dự án thí điểm loại ô tô sử dụng năng lượng mới; 3 tỉ đô la Mỹ được phân bổ cho giai đoạn 2011-2015 để thúc đẩy các phương tiện sử dụng điện và các loại ô tô tiết kiệm năng lượng khác; 1,5 tỉ đô la Mỹ trong giai đoạn 2011-2015 để phát triển các bộ phận chính; 750 triệu đô la Mỹ trong giai đoạn 2011-2015 để phát triển cơ sở hạ tầng cho các phương tiện chạy bằng điện ở một số thành phố thí điểm.

Tại Đài Loan, cũng giống như chiến lược phát triển kinh tế, tuyên truyền phổ biến thông tin nghiên cứu phát triển quy trình sản xuất và sản phẩm là trọng tâm của chiến lược sản xuất sạch hơn của nước này.

Năm 2000, Chính phủ Đài Loan đã dành 2% GDP (khoảng 6,2 tỉ đô la Mỹ) cho hoạt động R&D. Trong đó, 10% được dành cho nghiên cứu cơ bản, 30% dành cho nghiên cứu ứng dụng và phần còn lại để phát triển thí nghiệm các công nghệ mới.

Năm 1999, Bộ Giáo dục của Đài Loan đã đưa ra một tiêu chí mới để tài trợ các nghiên cứu tại các trường đại học là “Không có sản xuất sạch hơn, không có tài trợ”. Dưới tình hình đó, nhiều viện nghiên cứu bên ngoài các trường đại học đã được thành lập và tài trợ để thực hiện hoạt động R&D đối với các công nghệ và quy trình sản xuất sạch hơn, hiệu quả hơn. Trong đó, đáng chú ý là Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp, Viện nghiên cứu dệt may và Trung tâm năng suất Trung Quốc. Các viện này đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển đổi mới công nghệ thân thiện với môi trường của Đài Loan. Ví dụ, trong trường hợp cần thực hiện nghiên cứu về tính phù hợp của việc tái sử dụng một nguồn rác nào đó, một trong ba viện nghiên cứu này sẽ là đơn vị thực hiện. Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp đồng thời còn vận hành các phòng thí nghiệm về đổi mới. Bên cạnh thực hiện hoạt động R&D, Viện còn tham gia giám sát các công nghệ mới, sản phẩm mới và quy trình sản xuất mới được nghiên cứu phát triển với các đối tác nước ngoài, các tổ chức chuyển giao công nghệ và phối hợp thực hiện các nghiên cứu mới với các tổ chức địa phương.

 

                   ThS. Nguyễn Thị Thùy Trang, ThS. Nguyễn Thị Hoàng Yến - Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

© Trang tin điện tử Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
Giấy phép thiết lập số: 69/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 30 tháng 6 năm 2016
Cơ quan chủ quản: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội ĐT: 080.44889 Fax: 080.44889 - 080.44887 Email: khucongnghiep@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam" khi phát hành lại thông tin từ website này