Tìm kiếm
Lượt truy cập
Nghiên cứu - Trao đổi
Cập nhật ngày: 19/12/2016, 3:18 CH - Số lần xem: 1593
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH XANH: Giải pháp để phát triển bền vững hướng đến nền kinh tế xanh ở Việt Nam

Nền kinh tế thế giới đang trong quá trình tái cấu trúc để vượt qua khủng hoảng kinh tế, tài chính, năng lượng và lương thực liên tiếp xảy ra trong 10-15 năm trở lại đây. Chính trong bối cảnh này, việc tái cấu trúc theo mô hình từ “nền kinh tế nâu” sang “nền kinh tế xanh” đang được Chính phủ nhiều nước theo đuổi với quyết tâm như là một giải pháp cho việc vượt qua khủng hoảng. Song hành cùng quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam không phải là một ngoại lệ trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế - xã hội ấy.

Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh của Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 cho thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến 2050 là một bước tiến lớn trong định hướng chính sách của Việt Nam theo hướng xanh hoá nền kinh tế, tập trung vào 3 mục tiêu chính là giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất và xanh hóa tiêu dùng. Để nền kinh tế Việt Nam có thể đi theo hướng xanh và bền vững, tất cả hệ thống chính sách khuyến khích tăng trưởng xanh và xây dựng nền kinh tế xanh cần được thiết kế và áp dụng một cách đồng bộ, trong đó chính sách tài chính có ý nghĩa quan trọng có tính chất quyết định đến sự thành công của quá trình này.

Nền kinh tế xanh và chính sách tài chính xanh: Khái niệm và nội hàm

Thuật ngữ “nền kinh tế xanh”(green economy) lần đầu tiên được đề cập trong một báo cáo của một nhóm các nhà kinh tế môi trường hàng đầu gửi chính phủ Vương Quốc Anh vào năm 1989 với tiêu đề “Blueprint for a Green Economy” (“Thiết kế cho một nền kinh tế xanh”). Sau đó, Chương trình môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đưa ra khái niệm về “nền kinh tế xanh” đó là phát triển một nền kinh tế mà “nâng cao đời sống con người và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro môi trường và những thiếu hụt sinh thái”.

Một khái niệm quan trọng khác liên quan đến nền kinh tế xanh là “tăng trưởng xanh”. Nó được hiểu là “quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội”. Khái niệm cho rằng: vẫn có thể đạt được cả hai mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế xanh, đồng thời vẫn duy trì được mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Tất cả các mục tiêu của việc phát triển một nền kinh tế xanh cũng được bao hàm trong khái niệm của tăng trưởng xanh, đồng thời nhấn mạnh việc cần thiết phải có những hoạt động cụ thể và mạnh mẽ nhằm tái cơ cấu các hoạt động kinh tế cũng như xây dựng và kết cấu lại hệ thống cơ sở hạ tầng.

Chính sách tài chính xanh chính là các chính sách tài chính nhằm khuyến khích các hoạt động phục vụ cho các mục tiêu phát triển một nền kinh tế xanh hay thúc đẩy các mục tiêu của tăng trưởng xanh hoặc hạn chế các hoạt động cản trở các mục tiêu này.

Chính sách tài chính và thực hiện chính sách tài chính theo hướng phát triển nền kinh tế xanh ở Việt Nam

Các chính sách huy động nguồn lực tài chính đầu tư cho phát triển nền kinh tế xanh

Có nhiều nguồn vốn khác nhau được huy động, bao gồm: ngân sách nhà nước, nguồn vốn tài trợ nước ngoài (vốn ODA, vốn vay dài hạn) và các nguồn vốn hợp pháp khác. Việc huy động nguồn lực có thể thông qua các Quỹ tài chính như Quỹ Bảo vệ Môi trường và các quỹ khác, có thể trực tiếp từ nguồn ngân sách nhà nước tài trợ cho các chương trình, dự án thông qua nhiều hình thức khác nhau, hoặc các nguồn vốn tài trợ của nước ngoài theo những tiêu chí nhất định.

Theo Luật Bảo vệ Môi trường (2014), các tỉnh phải thành lập các quỹ bảo vệ môi trường ở địa phương mình. Điều đó có nghĩa là nguồn lực ở địa phương cũng cần được huy động cho bảo vệ môi trường nói chung và tác động đến phát triển xanh nói riêng. Ngoài ra, các nguồn vốn ngoài nhà nước cũng được huy động vào các hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển xanh thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như tín dụng ưu đãi, thuế ưu đãi…

Đặc biệt, Việt Nam tận dụng tương đối tốt cơ chế phát triển sạch (CDM) để thực hiện các dự án giảm phát thải các khí nhà kính. Đây là một cơ chế đối tác đầu tư giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, trong đó cho phép và khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân của các nước phát triển đầu tư tại các nước đang phát triển thực hiện các dự án giảm phát thải khí nhà kính và nhận được Chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận (CER). CER sẽ được tính vào chỉ tiêu giảm phát thải các khí nhà kính của các nước phát triển, giúp các nước này thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính trong Nghị định thư Kyoto.

Việc huy động nguồn lực này từ các nước đã phát triển là hết sức cần thiết, không chỉ đem lại lợi ích về môi trường tại Việt Nam mà còn tạo ra một nguồn tài chính tốt để tiếp tục thúc đẩy phát triển xanh hơn nữa. Việt Nam cần chủ động hơn trong mối quan hệ hợp tác này, hạn chế những khó khăn như việc xác định mức phát thải nền được công nhận (có cơ sở khoa học) từ đó doanh nghiệp mới tính toán được mức giảm phát thải khí nhà kính so với mức nền, có cơ sở để xây dựng các dự án và thực hiện các hợp đồng CDM. Một khó khăn khác cần vượt qua là qui mô các dự án CDM của Việt Nam nhỏ, khó thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư từ các nước phát triển và khó cạnh tranh với các dự án CDM của các nước đang phát triển khác.

Các chính sách thuế và phí cho phát triển nền kinh tế xanh

Nhóm các chính sách thuế và phí là những đòn bẩy rất quan trọng và được áp dụng rộng rãi trong phát triển kinh tế xanh trên thế giới. Đó là do các chính sách này trực tiếp nâng cao hiệu quả kinh tế của các hoạt động được ưu đãi về thuế hoặc phí. Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều loại thuế và phí khác nhau và về nguyên tắc hầu hết các loại thuế và phí này đều có thể lồng ghép các chính sách thúc đẩy kinh tế xanh bằng cách giảm nhẹ các nghĩa vụ này trong các hoạt động kinh tế liên quan. Độ phủ rộng của các ưu đãi thuế cũng như mức độ ưu đãi sẽ tạo nên mức độ hiệu quả khác nhau của các chính sách thúc đẩy kinh tế xanh này.

Nội dung thúc đẩy phát triển kinh tế xanh trong nhóm chính sách này ở thời điểm hiện nay được tổng kết ở Bảng 1.

Bảng 1: Các chính sách thuế và phí cho phát triển kinh tế xanh của Việt Nam

Văn bản chính sách

Nội dung khuyến khích phát triển kinh tế xanh

Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12

-  Quy định số thuế bảo vệ môi trường phải nộp bằng số lượng đơn vị hàng hóa chịu thuế nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa.

-  Quy định mức thuế tuyệt đối theo một Biểu khung thuế cụ thể.

-  Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thuế cụ thể đối với từng loại hàng hóa chịu thuế bảo đảm các nguyên tắc: a) Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ; b) Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế được xác định theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa. (Điều 8)

Nghị định số: 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Ưu đãi thuế nhập khẩu đối với các dự án nằm trong Danh mục đặc biệt khuyến khích đầu tư. Cụ thể là các nhóm dự án trong danh mục liên quan chặt chẽ với phát triển kinh tế xanh như: i) Đầu tư xây dựng các dự án nguồn điện từ năng lượng mặt trời, năng lượng gió, khí sinh vật, địa nhiệt, thủy triều; ii) Trồng, chăm sóc rừng; iii) Nuôi trồng nông, lâm, thủy sản trên đất hoang hóa, vùng nước chưa được khai thác; iv) Xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường; sản xuất thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường, thiết bị quan trắc và phân tích môi trường; v) Thu gom, xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn; tái chế, tái sử dụng chất thải.

Luật số: 50/2010/QH12 về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

 

-    Các ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế (Khoản 2a Điều 41).

-    Phương tiện, thiết bị, phụ tùng, vật tư phục vụ cho hoạt động nghiên cứu phát triển công nghệ tiết kiệm năng lượng; sản phẩm tiết kiệm năng lượng, các loại phương tiện giao thông tiết kiệm nhiên liệu, sử dụng khí hoá lỏng, khí thiên nhiên, điện, nhiên liệu hỗn hợp, sinh học mà trong nước chưa sản xuất được và thuộc danh mục do Chính phủ quy định được miễn, giảm thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế. (Khoản 3 Điều 41).

Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 14/2008/QH12 ngày 03/06/2008, Luật Sửa đổi Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (Luật số 32/2013/QH13) và Thông tư 78/2014/TT-BTC

- Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực môi trường được miễn thuế tối đa không quá 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá 9 năm tiếp theo (Điều 14, Luật 14/2008/QH12).

- Bổ sung khoản thu nhập được miễn thuế (Khoản 8, Điều 4 của Luật 32/2013/QH13) “Thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) của doanh nghiệp được cấp chứng chỉ giảm phát thải”. Cụ thể qui định tại Thông tư 78/2014/TT-BTC: Thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) lần đầu của doanh nghiệp được cấp chứng chỉ giảm phát thải; các lần chuyển nhượng tiếp theo nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014

Hai hình thức ưu đãi thuế chính đối với các đối tượng được áp dụng ưu đãi đầu tư: i) Áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; ii) Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư.

Nghị định 04/2009/NĐ-CP, ngày 14/01/2009 về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường. 

 

-      Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp: Doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động bảo vệ môi trường trong các hoạt động nghiên cứu, sản xuất kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp (Điều 13).

-      Ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: i) Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện, dụng cụ, vật liệu sử dụng trực tiếp trong việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; quan trắc và phân tích môi trường; sản xuất năng lượng sạch, năng lượng tái tạo: được miễn thuế nhập khẩu và áp dụng cho cả trường hợp mở rộng quy mô dự án, thay thế, đổi mới công nghệ; ii) Nhập khẩu máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất, công nghệ trong nước chưa tạo ra được; tài liệu, sách, báo, tạp chí khoa học và các nguồn tin điện tử về khoa học và công nghệ sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu, xử lý chất thải, dự án chuyển giao công nghệ phục vụ xử lý chất thải: được ưu đãi về thuế theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; iii) Một số sản phẩm quy định tại trong Danh mục các sản phẩm được ưu đãi, hỗ trợ của  Nghị  định nếu xuất khẩu thì được miễn thuế xuất khẩu (Điều 14).

-      Ưu đãi thuế giá trị gia tăng: Doanh nghiệp, hợp tác xã được hưởng ưu đãi về thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng. (Điều 15)

-      Ưu đãi về phí: Doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện dự án hoạt động bảo vệ môi trường được đặc biệt ưu đãi, hỗ trợ quy định tại một số khoản trong Danh mục được ưu đãi của Nghị định và các hoạt động  quy định tại Danh mục hoạt động nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh được miễn phí bảo vệ môi trường.

Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/03/2013 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

 Quy định cụ thể mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

 

Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 về quản lý chất thải rắn.

Được hưởng chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với trang thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ cho các dự án đầu tư cơ sở xử lý chất thải rắn, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định hiện hành.

Quyết định số 24/2014/QĐ-TTg, ngày 24/3/2014 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối tại Việt Nam

- Thuế nhập khẩu: Dự án điện sinh khối được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho dự án; hàng hóa nhập khẩu là nguyên liệu, vật tư, bán thành phẩm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ sản xuất của dự án theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Điều 12).

- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án điện sinh khối được thực hiện như đối với dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế (Điều 12).

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các văn bản chính sách.

Các văn bản chính sách về thuế và phí được ban hành và có hiệu lực ở những thời điểm khác nhau, vì vậy mức độ tác động cũng khác nhau trong thực tế. Luật Thuế bảo vệ môi trường ban hành năm 2010 nhưng nhìn chung mức thuế tuyệt đối qui định còn khá thấp nên mức độ răn đe các hành vi vi phạm chưa cao, chưa kể đến việc nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh không kê khai chính xác khối lượng nguyên, nhiên liệu gây ô nhiễm là cơ sở tính toán số tiền thuế phải trả. Do mức thuế được qui định bằng đồng Việt Nam, biểu tính thuế nếu không được cập nhật thường xuyên thì các mức thuế sẽ bị giảm giá trị trên thực tế (cho đến hiện nay chưa có điều chỉnh nào) và mức độ răn đe các hành vi vi phạm lại càng yếu đi.

Các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động bảo vệ môi trường, đầu tư các hoạt động sản xuất kinh doanh có lợi cho môi trường, cho nền kinh tế xanh. Tuy các chính sách thuế và phí này có tác động tích cực rõ ràng, nhưng hiện vẫn chưa có những tổng kết chính thức về mức độ định lượng hiệu quả thực sự của các chính sách thuế và phí. Hầu hết các chính sách này mới được hoàn thiện và ban hành trong khoảng 4-5 năm trở lại đây. Vì vậy, có lẽ tác động thực sự của các chính sách này chỉ có thể thấy rõ hơn trong thời gian tới đây.

Các chính sách tín dụng, chính sách giá cả và các chính sách tài chính khác cho phát triển nền kinh tế xanh

Các chính sách tín dụng và chính sách giá cả hỗ trợ cho bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh cũng đã được ban hành đặc biệt trong những năm gần đây. Tín dụng ưu đãi được áp dụng cho các khoản vay cho các mục tiêu này thông qua một số quỹ hoặc các chương trình như Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam, Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Chương trình sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020… Lãi suất thấp hơn đáng kể so với lãi suất vay thương mại góp phần kích thích đầu tư trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.

Nhà nước cũng có các chính sách về giá cả năng lượng, thể hiện trước hết trong quan điểm của Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050. Với quan điểm này, chính sách giá năng lượng được coi là một trong những chính sách đột phá, theo đó, cần nhanh chóng xóa bỏ độc quyền, bao cấp qua giá trong cả sản xuất và tiêu dùng năng lượng, giá năng lượng cần được xác định phù hợp với cơ chế thị trường.

Hiện nay, giá các loại nhiên liệu hoá thạch như than, dầu hay khí đốt đã dần dần tiến đến giá thị trường và các loại giá này về cơ bản đã vận hành theo cơ chế thị trường. Điều này giúp cho các chủ thể kinh tế và người dân quan tâm hơn đến tiết kiệm năng lượng, từ đó tiết kiệm chi phí sử dụng năng lượng để hạ giá thành hoặc giảm chi phí cuộc sống của gia đình mình. Vì vậy, các chính sách giá cả này có tác động gián tiếp cho tiến trình tăng trưởng xanh thông qua xoá bỏ bao cấp về giá tiêu dùng năng lượng. Ngược lại về phía cung, các chính sách trợ giá đối với việc sản xuất các sản phẩm sạch, sản xuất các loại năng lượng tái tạo cũng sẽ giúp giảm mức phát thải khí nhà kính thông qua việc cung ứng các loại sản phẩm này.

Bên cạnh các chính sách tín dụng và giá cả, các chính sách tài chính khác hỗ trợ cho phát triển kinh tế xanh còn phải kể đến như chính sách tài chính đất đai hoặc các hỗ trợ tài chính cho các khoá đào tạo khác nhau phục vụ cho việc bảo vệ môi trường hay cho phát triển kinh tế xanh. Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn lực tài chính hiện tại, các chính sách tài chính này chưa hoàn toàn phát huy hết tác dụng.

Các chính sách tín dụng khuyến khích bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh được thực hiện dưới hình thức cho vốn vay đầu tư và sau đầu tư với lãi suất ưu đãi được thể hiện ở khá nhiều văn bản khác nhau và cho các mục tiêu khác nhau như: các chương trình dự án phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, sự cố môi trường, các dự án xử lý chất thải, các chương trình sản xuất sạch hơn, các hoạt động sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng, đầu tư dây chuyền sản xuất, mở rộng qui mô sản xuất bằng công nghệ tiết kiệm năng lượng, các dự án sản xuất năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, thực tế nguồn lực tài chính cho các khoản tín dụng này còn hết sức hạn chế.

Chính sách trợ giá được áp dụng đối với các sản phẩm của các dự án đầu tư theo cơ chế phát triển sạch, hỗ trợ giá điện cho bên mua đối với sản lượng điện mua từ các nhà máy sản xuất điện từ năng lượng tái tạo như điện gió, điện sinh khối, hỗ trợ chi phí đầu vào cho các dự án sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường… Tuy nhiên, tình trạng thiếu vốn là khá phổ biến trong quá trình thực hiện các chính sách trợ giá này.

Chính sách tài chính cho phát triển nền kinh tế xanh ở Việt Nam nhằm phát triển bền vững

Nhóm giải pháp cho thời kỳ từ nay đến năm 2020

- Thực hiện tốt hơn hoạt động phản biện trong giai đoạn thiết kế, dự thảo chính sách nói chung và chính sách tài chính xanh nói riêng.

- Tăng cường hiệu lực thực thi của các chính sách tài chính hiện hành thông qua việc xác định cụ thể hơn quyền hạn và trách nhiệm giải trình của các cấp chính quyền và các cơ quan thực thi chính sách.

- Đẩy mạnh hơn công tác phổ biến chính sách và các qui định cụ thể về các chính sách tài chính có liên quan đến phát triển xanh.

Các giải pháp cụ thể cho các nhóm chính sách bao gồm:

* Nhóm chính sách về huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xanh

- Thiết kế hệ thống giá dịch vụ công thoả đáng thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và tạo nguồn vốn dồi dào cho tín dụng ưu đãi trong lĩnh vực này.

- Khai thác tốt hơn các cơ hội tài trợ của các tổ chức, các quỹ quốc tế về bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu góp phần thúc đẩy kinh tế xanh.

* Nhóm chính sách thuế và phí cho phát triển kinh tế xanh

- Sửa đổi mức thuế bảo vệ môi trường cho phù hợp và ban hành một cơ chế tự điều chỉnh các mức thuế theo kịp với biến động của lạm phát.

- Hoàn thiện các chính sách về các loại phí bảo vệ môi trường và tính đến tác động của lạm phát tương tự như trường hợp của thuế bảo vệ môi trường.

- Sửa đổi Nghị định  số 74/2011/NĐ-CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản do mức thu phí đối với một số khoáng sản còn thấp, chưa tương xứng với mức độ gây ô nhiễm môi trường do quá trình khai thác gây ra.

* Nhóm chính sách tín dụng, giá cả và các chính sách tài chính khác

- Tiếp tục hỗ trợ tín dụng ưu đãi cho các chương trình thúc đẩy kinh tế xanh, mặc dù chưa nên áp dụng “tín dụng xanh” một cách hệ thống (tài trợ được cho tất cả các dự án trong các diện hỗ trợ).

- Cần thực thi tốt một số chính sách tài chính khác như miễn, giảm tiền sử dụng đất, hỗ trợ chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, hỗ trợ khấu hao nhanh tài sản cố định...

Nhóm giải pháp cho thời kỳ 2021-2030

* Nhóm chính sách về huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế xanh

- Trong giai đoạn 2021-2030, hành lang pháp lý cho việc huy động các nguồn lực tài chính trong xã hội đã được thiết lập. Vì vậy, cần duy trì và tăng cường khả năng thực thi các chính sách này. Đặc biệt là luôn thực thi tốt các tiêu chí “xanh” và bền vững đối với các dự án đầu tư công; nghiên cứu, điều chỉnh hợp lý giá dịch vụ công trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và các dịch vụ xã hội khác để thu hút đầu tư xã hội vào các hoạt động này.

- Tiếp tục tận dụng các cơ hội tài trợ như trong thời kỳ 2016-2020, đẩy mạnh hơn cơ hội hợp tác đầu tư trong các dự án thúc đẩy kinh tế xanh với các nước phát triển hơn theo cơ chế thương mại.

* Nhóm chính sách thuế và phí cho phát triển kinh tế xanh

- Thuế các-bon cần được áp dụng vào giữa hoặc cuối thời kỳ 2021-2030 tùy vào thời điểm các điều kiện đã chín muồi.

- Giảm sâu hơn thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với những dây chuyền sản xuất áp dụng các công nghệ xanh so với mức giảm ở giai đoạn 2016-2020; áp dụng rộng rãi hệ thống các loại phí ô nhiễm (pollution charges and pollution fees) cho địa bàn cả nước cũng như các loại phí ô nhiễm áp dụng cho các đô thị.

* Nhóm chính sách tín dụng, giá cả và các chính sách tài chính khác

- Áp dụng một cách có hệ thống “tín dụng xanh” dựa trên hệ thống các ngân hàng thương mại cho tất cả các dự án trong các diện hỗ trợ chứ không theo các chương trình đơn lẻ như ở giai đoạn 2016-2020. Tiềm lực tài chính lớn hơn của nền kinh tế ở giai đoạn 2021-2030 sẽ cho phép thực hiện được điều đó.

- Thực hiện nghiêm chỉnh lộ trình xoá bỏ hoàn toàn trợ cấp cho nhiên liệu hoá thạch cũng như lộ trình nâng giá cho sản xuất các loại năng lượng tái tạo để đề ra ở thời kỳ 2015-2020 sao cho mặt bằng giá thị trường của các loại năng lượng này lên cao hơn giá thành sản xuất, đảm bảo hiệu quả cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực kinh tế xanh.

Tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phát triển kinh tế xanh đang ngày càng là một xu thế tất yếu của các nước trên thế giới, mặc dù còn có sự chưa thống nhất về các bước đi cụ thể. Mô hình phát triển kinh tế xanh là bước phát triển tiếp theo của mô hình hướng tới phát triển bền vững đã được khẳng định trên thế giới cũng như ở Việt Nam.

Hệ thống chính sách tài chính cho kinh tế xanh của Việt Nam mặc dù có độ phổ rộng cao nhưng cũng còn chưa thật hoàn thiện. Để khắc phục những hạn chế chính sách cần có những giải pháp hữu hiệu và một lộ trình thực hiện hợp lý cho các giai đoạn từ nay đến 2020 và 2021-2030. Việc thực hiện đồng bộ hệ thống các chính sách tài chính này sẽ góp phần tạo ra một nền kinh tế theo hướng phát triển xanh.

-------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

AtKissons (2013), Green Economy 2013 A Strategic Briefing on the State of Play in the Global Transition, AtKisson Group’s Sustainability Intelligence Unit.

Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2013 – “Môi trường không khí”, Hà Nội, Việt Nam.

UNEP (2011), Toward a Green Economy: Pathways to sustainable Development and Poverty Eradication, www.unep.org/greeneconomy.

VNEEP (2013), Thống kê năng lượng Việt Nam 2012, Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

 

 
  •  HOÀNG VĂN CƯƠNG, PHẠM PHÚ MINH - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
  • VĂN THIÊN HÀO - Trường Đại học quang Trung, Nghiên cứu sinh Khoa Kinh tế, Đại học Tổng hợp Hữu nghị các dân tộc Nga, Liên Bang Nga

 

© Trang tin điện tử Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam
Giấy phép thiết lập số: 69/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 30 tháng 6 năm 2016
Cơ quan chủ quản: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Địa chỉ: Số 6B Hoàng Diệu - Ba Đình - Hà Nội ĐT: 080.44889 Fax: 080.44889 - 080.44887 Email: khucongnghiep@mpi.gov.vn
Ghi rõ nguồn "Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam" khi phát hành lại thông tin từ website này